Find the latest bookmaker offers available across all uk gambling sites www.bets.zone Read the reviews and compare sites to quickly discover the perfect account for you.
Home / Văn Bản Pháp Luật / LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN Số: 35-L/CTN

LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN Số: 35-L/CTN

Chương 3:

CÁC TỔ CHỨC PHỤ TRÁCH BẦU CỬ

Điều 14

Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm có:

– Hội đồng bầu cử;

– Ban bầu cử;

– Tổ bầu cử.

Điều 15

Chậm nhất là tám mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến mười lăm người gồm đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khác; ở xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến chín người gồm đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội khác, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.

Hội đồng bầu cử bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch và Thư ký.

Danh sách Hội đồng bầu cử tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải báo cáo lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Danh sách Hội đồng bầu cử các cấp khác phải báo cáo lên Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.

Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1- Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử ở địa phương, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử;

2- Nhận hồ sơ của người tự ứng cử và chuyển cho Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

3- Xét và giải quyết những khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử của các Ban bầu cử, Tổ bầu cử;

4- Công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị và số đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử ở địa phương mình;

5- Nhận hồ sơ và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử, xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách đó;

6- Nhận tài liệu và phiếu bầu của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử;

7- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương;

8- Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại theo quy định tại các điều 53, 54, 55, và 56 của Luật này;

9- Công bố kết quả bầu cử;

10- Trình Hội đồng nhân dân biên bản tổng kết cuộc bầu cử và chuyển giao các hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử theo quy định tại Điều 57 của Luật này.

Điều 16

Chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp ấy thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ năm đến mười một người gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri ở địa phương; ở xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ năm đến chín người gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri.

Ban bầu cử bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Thư ký.

Ban bầu cử có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử của các Tổ bầu cử trong đơn vị bầu cử;

2- Kiểm tra, đôn đốc việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc niêm yết danh sách những người ứng cử ở các Tổ bầu cử trong đơn vị bầu cử;

3- Kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc bầu cử ở các phòng bỏ phiếu;

4- Nhận tài liệu và phiếu bầu của Hội đồng bầu cử; phân phối tài liệu và phiếu bầu cho các Tổ bầu cử chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử;

5- Xét và giải quyết các khiếu nại về công tác bầu cử của các Tổ bầu cử;

6- Nhận, tổng hợp và kiểm tra biên bản kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến, làm biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử;

7- Chuyển giao biên bản xác định kết quả bầu cử và hồ sơ, tài liệu về bầu cử theo quy định tại Điều 51 của Luật này.

8- Tổ chức việc bầu cử thêm, bầu cử lại theo quyết định của Hội đồng bầu cử.

Điều 17

Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ năm đến chín người gồm đại diện các tổ chức xã hội và tập thể cử tri ở địa phương.

Trong trường hợp đơn vị bầu cử chỉ có một khu vực bỏ phiếu thì Ban bầu cử kiêm nhiệm vụ của Tổ bầu cử.

Các đơn vị vũ trang nhân dân thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử.

Tổ bầu cử bầu Tổ trưởng, Tổ phó và Thư ký.

Tổ bầu cử có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1- Phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;

2- Bố trí phòng bỏ phiếu, chuẩn bị hòm phiếu;

3- Nhận tài liệu về bầu cử của Ban bầu cử và phát phiếu bầu có đóng dấu của Tổ bầu cử cho cử tri;

4- Thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử;

5- Bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh nội quy của phòng bỏ phiếu;

6- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;

7- Kiểm phiếu và làm biên bản kiểm phiếu;

8- Chuyển giao biên bản kiểm phiếu, phiếu bầu và các tài liệu khác về bầu cử theo quy định tại Điều 50 của Luật này.

Điều 18

Các tổ chức phụ trách bầu cử và các thành viên của các tổ chức này không được vận động cho những người ứng cử.

Điều 19

Các tổ chức phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ tập thể, các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự. Các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

Điều 20

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân cử cán bộ, nhân viên của mình tham gia vào công tác bầu cử theo yêu cầu của Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tạo điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức phụ trách bầu cử thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này.

Điều 21

Hội đồng bầu cử hết nhiệm vụ sau khi đã trình biên bản tổng kết cuộc bầu cử và hồ sơ, tài liệu về bầu cử tại kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá mới.

Các Ban bầu cử, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ sau khi Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử.